Bộ LĐ-TB&XH hướng dẫn một số nội dung khi thực hiện Luật BHXH

Bộ LĐ-TB&XH hướng dẫn một số nội dung khi thực hiện Luật BHXH
5 (100%) 1 vote

Bộ LĐ-TB&XH vừa có Công văn 3432/LĐTBXH-BHXH trả lời BHXH Việt Nam về việc làm rõ một số nội dung vướng mắc khi thực hiện chế độ BHXH theo Luật BHXH năm 2014.

bang gia BHXH

Bộ LĐ-TB&XH cũng đề nghị BHXH Việt Nam chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện.

Về chế độ ốm đau:

NLĐ thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản bị ốm đau, tai nạn mà không phải tai nạn lao động hoặc phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 7 tuổi bị ốm đau mà thời gian nghỉ việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng (bao gồm cả trường hợp nghỉ việc không hưởng tiền lương) thì mức hưởng chế độ ốm đau được tính trên mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Trường hợp các tháng liền kề tiếp theo NLĐ vẫn tiếp tục bị ốm và phải nghỉ việc thì mức hưởng chế độ ốm đau được tính trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

Về chế độ thai sản:

– Lao động nữ mang thai đôi trở lên mà khi sinh nếu có con bị chết hoặc chết lưu hoặc tất cả các con đều bị chết thì trợ cấp một lần khi sinh con theo quy định tại Điều 38 của Luật BHXH được tính theo số con được sinh ra, bao gồm cả con bị chết hoặc chết lưu.

– Theo quy định tại Khoản 3 Điều 31 của Luật BHXH thì lao động nữ đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn không quy định thời gian tối thiểu nghỉ dưỡng thai để được hưởng chế độ thai sản theo điều kiện quy định nêu trên.

– Trợ cấp một lần khi sinh con trong trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH theo Điều 38 của Luật BHXH cũng được thực hiện đối với cả trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con mà người cha đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 9 của Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXHngày 29/12/2015 của Bộ LĐ-TB&XH.

– Khoản 6 Điều 34 của Luật BHXH quy định trong trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà mẹ gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi, không phụ thuộc vào thời gian đã đóng BHXH.

– Lao động nam đang đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 34 của Luật BHXH thì có thể nghỉ làm nhiều lần nhưng tổng thời gian không quá thời gian quy định.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nam được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con, đối với trường hợp nghỉ làm nhiều lần thì thời gian bắt đầu nghỉ việc lần cuối cùng vẫn phải trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.

– Thời gian tối đa nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật BHXH được tính cho một năm, kể từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12 của năm dương lịch.

Thời gian tính hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được tính trên cơ sở thời gian thực tế NLĐ nghỉ việc bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

Về chế độ hưu trí:

– Khi giải quyết chế độ hưu trí đối với NLĐ thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 28 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CPngày 11/11/2015 của Chính phủ thì điều kiện hưởng lương hưu, cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu, tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước tuổi, cách tính tuổi đời có tháng lẻ, thời gian đóng BHXHcó tháng lẻ, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được thực hiện theo quy định của pháp luật trước ngày 1/1/2016.

Đối với các trường hợp thuộc diện nêu trên mà thời điểm hưởng lương hưu kể từ ngày 1/2/2016 trở đi thì chế độ hưu trí được thực hiện theo quy định của Luật BHXH năm 2014.

– Việc giải quyết chế độ hưu trí đối với lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH bắt buộc, được thực hiện như sau:

Trường hợp đã nghỉ việc và bảo lưu thời gian đóng BHXH từ trước ngày 1/1/2016, từ ngày 1/1/2016 trở đi nếu có nguyện vọng và đủ 55 tuổi thì được giải quyết hưởng lương hưu theo khoản 3 Điều 54 của Luật BHXH năm 2014.

Trường hợp tiếp tục đóng BHXH tự nguyện thì chế độ hưu trí được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH ngày 18/2/2016 của Bộ LĐ-TB&XH.

Trường hợp tiếp tục đóng BHXH bắt buộc (không còn thuộc diện người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn) thì việc giải quyết chế độ hưu trí thực hiện theo Khoản 1, Khoản 4 Điều 54 và Điều 55 của Luật BHXHnăm 2014.

– Khi tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần mà có thời gian đóng BHXHtrước ngày 1/10/2004 theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH của thời gian này được chuyển đổi theo chế độ tiền lương tại thời điểm hưởng chế độ hưu trí, tử tuất. Riêng đối với NLĐ có thời gian làm việc trong các doanh nghiệp đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định mà hưởng BHXH từ ngày 1/1/2016 trở đi thì tiền lương tháng đóng BHXH trước ngày 1/10/2004 nêu trên được chuyển đổi theo tiền lương quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ.

Đối với những người là lao động xã hội mà sau khi được cử đi hợp tác lao động về nước tiếp tục tham gia đóng BHXH bắt buộc thì tiền lương tháng đóng BHXH của thời gian đi hợp tác lao động được tính bằng hai lần mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng BHXH.

– NLĐ đã đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu mà thời gian đóng BHXH bắt buộc còn thiếu tối đa 6 tháng theo Khoản 6 Điều 85 của Luật BHXH hoặc thiếu tối đa 30 tháng theo Điểm e Khoản 1 Điều 3 của Nghị định số 26/2015/NĐ-CP ngày 9/3/2015 của Chính phủ được đóng một lần cho thời gian còn thiếu vào quỹ hưu trí và tử tuất để hưởng lương hưu thì tiền lương tháng đóng BHXH của những tháng còn thiếu là tiền lương của tháng trước khi nghỉ việc.

Đối với trường hợp tháng trước khi nghỉ việc NLĐ đang làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì thời gian đóng BHXH cho những tháng còn thiếu không được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.

– NLĐ đủ điều kiện về tuổi đời để hưởng lương hưu mà thời gian đóng BHXH bắt buộc còn thiếu tối đa 6 tháng, lựa chọn đóng một lần cho thời gian còn thiếu và đã hoàn thành việc đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất trước ngày 1/1/2016 thì được hưởng lương hưu kể từ ngày 1/1/2016.

– Khi tính mức hưởng BHXH một lần hoặc trợ cấp tuất một lần trong trường hợp người đang đóng BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian đóng BHXH chết mà có thời gian đóng BHXH cả trước và sau ngày 1/1/2014, nếu thời gian đóng trước ngày 1/1/2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng BHXH từ ngày 1/1/2014 trở đi.

– Khi tính mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu mà ra nước ngoài để định cư quy định tại Điều 65 của Luật BHXH năm 2014, nếu thời gian đóng BHXH có tháng lẻ thì thực hiện như khi tính mức hưởng BHXH một lần trong trường hợp thời gian đóng BHXH có tháng lẻ.

Về chế độ tử tuất:

– Khi xác định tuổi của con để làm căn cứ giải quyết chế độ tử tuất thì thực hiện như sau: Chưa đủ 18 tuổi được tính đến hết tháng liền kề trước tháng sinh của năm đủ 18 tuổi. Dưới 6 tuổi được tính đến hết tháng liền kề trước tháng sinh của năm đủ 6 tuổi.

– Khi giải quyết chế độ tử tuất nếu hồ sơ của thân nhân NLĐkhông xác định được ngày, tháng sinh thì lấy ngày 1 tháng 1 của năm sinh để tính tuổi làm cơ sở giải quyết chế độ tử tuất.

Theo nguồn:http://www.baohiemxahoi.gov.vn/

Tham khảo đăng ký chữ ký số VNPT

0 phản hồi

Để lại lời nhắn

Muốn tham gia các cuộc thảo luận? Hãy đóng góp!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*